Chuyện đời vạn sự do tâm
Yêu em dẫu có sai lầm vẫn yêu
-----------------------------------
Trót yêu em trái tim thầm ngớ ngẩn
Phút dại khờ cũng ngượng nghịu làm thơ.
Hiển thị các bài đăng có nhãn công cụ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công cụ. Hiển thị tất cả bài đăng

25 thg 6, 2011

Tiêu chuẩn bản vẽ kỹ thuật của Nhật JIS


(Bài viết này do Huy - BKMetalx tổng hợp từ các bài viết nhỏ trong topic Vẽ kỹ thuật trên Giảng đường MESLAB)



Hiện giờ trên thế giới, bản vẽ kỹ thuật thường được thể hiện theo 2 hệ tiêu chuẩn: Âu – Mỹ và Nhật Bản. Trong đó, các tiêu chuẩn của VN, LX, TQ … đều dựa theo Âu – Mỹ (các bản vẽ của các nước châu Âu như Đức, Italia hoặc của Mỹ cũng có cách đọc giống như theo TCVN).

Nói về góc nhìn để đọc bản vẽ, hệ Âu – Mỹ theo góc nhìn người thứ 3, hệ Nhật theo góc nhìn thứ nhất (nếu hay chơi các game bắn súng thì cũng dễ hiểu thôi nhỉ?). Do đó, khi quan sát 1 vật 3D, hệ Âu Mỹ sẽ có các hình chiếu front – top – left (đứng từ ngoài nhìn vào). Còn hệ Nhật, do cách đặt góc nhìn từ bên trong, sẽ có các hình chiếu front – down – right (hoặc back – top – right..). Nói theo cách khác, nếu đọc bản vẽ Nhật theo kiểu quen dùng ở VN thì giữ 1 hình chiếu làm chuẩn (top hoặc front hoặc left), các hình chiếu còn lại lấy đối xứng gương (chú ý nét khuất).

Về quy tắc thì Nhật chiếu như thế này : Gọi tên các mặt như  Solidworks hay MasterCam cho quen thuộc: Trên mặt phẳng Front, ta hình dung có 4 cái bản lề = 1 trên cạnh phải, 1 trên cạnh trái, 1 trên và 1 dưới.


Khi ta mở tất cả các ” cánh cửa” ra , tức là mở tung khối lập phương thì lúc này ta nhìn thấy trên các “cánh cửa” vẽ gì thì hình chiễu là như thế, bản vẽ như thế và vị trí tương quan các hình chiếu đứng, cạnh, bằng ….. cũng như thế. Đó là cách dễ nhớ và hình dung trong bản vẽ Nhật.


Mặt Top là hình chiếu đặt trên cùng, mặt side là hình chiếu cạnh, mặt front là hình chiếuđứng, mặt bottom là hình chiếu bằng….


Bản vẽ của VN thì khi mở các mặt lập phương bởi bản lề thì “cánh cửa ” bên trái mang đặt sang phải và gọi là “hình chiếu cạnh”, cánh cửa trên cùng thì bê xuống dưới và gọi là hình chiếu bằng …..


Nếu thi tuyển vào các cty Nhật thì nên ghi rõ góc chiếu số mấy, hay ghi chiếu theo tcvn tránh thiệt thòi cho ứng viên nếu chẳng may khác đáp án (lưu ý : 1 số cty không chấp nhận cách chiếu như VN mình, họ sẽ vẽ ví dụ cách chiếu Nhật = 1 hình vẽ và bắt thí sinh làm bài theo đấy. Tốt nhất là hỏi ngay người coi thi được chiếu hệ nào)


Chỉ cần quan sát các ví dụ sau là thấy ngay việc hình dung ra mô hình 3D sẽ đơn giản, dễ dàng hơn hệ quy chiếu của VN. Ta chỉ cần đóng các cánh cửa vào  là xong (lật mặt 90 độ), trong khi đó, chiếu như VN mình thì phải lật 90 độ các mặt, sau đó bên trái vác sang bên phải, bên dưới vác để lên trên… rồi mới hình dung tiếp được


5 thg 4, 2011

[AutoCAD] Sử dụng layout cho bản vẽ kỹ thuật

(Tác giả: DCL - http://www.meslab.org/mes/threads/4838-Su-dung-Layout-va-cach-tao-hinh-trich-trong-ban-ve-ki-thuat-?p=29074&viewfull=1#post29074)

Nhiều bạn chưa nắm được cách tạo bản vẽ kỹ thuật AutoCAD một cách chuyên nghiệp, các bạn vẽ tất cả những gì cần in ra trong một khuôn giấy có khung tên ngay trong môi trường Model, kể cả hình trích với kích thước to hơn, với hàm ý rằng như vậy là phóng nó với tỷ lệ khác với tỷ lệ chung. Làm như vậy sẽ có những nhược điểm rất phi kỹ thuật sau đây:

Thứ nhất: phải tạo các khung tên to nhỏ khác nhau cho phù hợp với kích thước mỗi đối tượng cần in.


Thứ hai: phải đặt các tỷ lệ cỡ chữ và cỡ kích thước khác nhau cho phù hợp với kích thước mỗi đối tượng cần in. Kết quả là mỗi bản vẽ có thể có các kích cỡ chữ và số khác nhau, chẳng tuân theo tiêu chuẩn nào cả.


Thứ ba: Các hình trích được tạo với kích thước khác thực tế và giá trị kích thước dĩ nhiên phải sửa lại cho đúng theo cách thủ công, rất dễ nhầm và hay bị quên khi sửa đổi gì đó trong thiết kế.


Có một cách mang tính chuyên nghiệp để giải quyết những vấn đề này, ta chỉ mất công một chút, đúng một lần duy nhất này thôi. Sau đó, mỗi khi thiết kế, ta chỉ việc áp dụng một cách nhanh chóng và khoa học. Đó là sử dụng Layout để tạo trang in.

3 thg 4, 2011

[Tổng hợp] Thép không gỉ

1. Giới thiệu:


Thép không gỉ, hay còn gọi là inox (từ gốc tiếng Pháp: inoxydable) là một loại thép hợp kim có chứa Cr (với hàm lượng Cr tối thiếu là 10.5% khối lượng). Nếu các loại thép thông thường khi tiếp xúc với các tác nhân oxy hóa (như không khí, độ ẩm ...) sẽ tạo thành gỉ sắt và ăn mòn vào lớp vật liệu bên trong, thì trong thép không gỉ, khi hàm lượng Cr đủ cao, trên bề mặt nó sẽ hình thành một lớp màng thụ động là oxit crom có tác dụng ngăn cản quá trình tạo gỉ và ăn mòn vào lớp vật liệu bên trong khiến cho bề mặt nó luôn tạo cảm giác sáng bóng.


Nhờ những đặc tính nổi bật, ngày nay, thép không gỉ được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, y tế, đời sống ... Tuy nhiên, vì cái tên "không gỉ", đây cũng làm loại vật liệu hay được lạm dụng  vì nhiều mục đích khác nhau, nhất là đối với các ứng dụng trong đời sống. Nhưng thực tế, khả năng chịu ăn mòn của loại thép này tùy thuộc theo các thành phần hợp kim của nó và môi trường sử dụng, trong nhiều trường hợp, nó còn nhạy cảm với ăn mòn hơn cả thép thường (nhất là trong dung dịch muối clo, VD: muối ăn NaCl ...)


7 thg 6, 2010

Tối ưu hóa giá thành bằng 7 công cụ QC

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các tiêu chí về chất lượng trở nên cực kỳ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Nó trở thành mục tiêu của mọi cải tiến trong quá trình sản xuất. Thông qua cải tiến chất lượng, các phương pháp tối ưu hóa giúp làm giảm chi phí và những  biến động không mong muốn trong quá trình sản xuất. Các yếu tố đặc trưng cho nội dung này là chất lượng, năng suất và giá thành đều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Với mục tiêu chính của mọi quy trình quản lý chất lượng là đảm bảo sự hài lòng của khách hàng, kiểm soát quá trình là những biện pháp quan trọng nhất để đạt được mục tiêu này. Và đối tượng đầu tiên của kiểm soát chất lượng trong mọi cải tiến là giảm giá thành và chi phí sản xuất.

Đây là nội dung bài viết của các tác giả Nitin K. Mandavgade và Santosh. B. Jaju đăng trên International Journal of Engineering Studies, ISSN 0975-6469, Vol 1, Number 3 (2009) http://www.ripublication.com/ijes.htm

Bản gốc tiếng Anhhttp://www.mediafire.com/?njk5mjiyya2